SAO KHÔNG NÓI KHI EM CÒN SỐNG

17:10 |
SAO KHÔNG NÓI KHI EM CÒN SỐNG 

Thông thường khi sống bên nhau chúng ta ít đối đãi ân cần với nhau. Chúng ta ít dám nói những lời ngọt ngào chân thành dành cho nhau. Tất cả như đang bị chôn tận đáy lòng khiến chúng ta ngại ngùng khi bày tỏ tình yêu thương đối với người thân. Nhưng đáng tiếc, chúng ta lại thay vào đó là những đối xử vô tâm, những lời nói vô tình làm buồn lòng nhau. Để đến khi ta mất đi người thân, vĩnh viễn không còn thấy nhau nữa thì cảm xúc yêu thương được xuất phát từ trái tim mới biểu lộ. Buồn thay, người đã chết rồi không còn nghe được nữa!
Có thể những lời yêu thương, ngọt ngào như thế, lúc còn sống người thân chúng ta khao khát muốn được nghe biết bao nhiêu! Thế mà chúng ta chỉ biết cho nhau những lời chì chiết, lạt lẽo, vô tình.
Có một bài hát có câu: “… sao anh không nói khi em còn sống…”. Một câu trách thật là nhẹ nhàng nhưng cứ xoáy vào tim… Sao anh không nói khi em còn sống, bây giờ khi em không còn nữa, anh muốn nói thì đã muộn, những lời nói mà nếu lúc còn sống được nghe anh nói, em sẽ hạnh phúc biết dường nào.
“Sao không nói khi em còn sống  ..  .” là những lời yêu thương tôn trọng lẫn nhau, mà lại nói những lời thóa mạ làm đau lòng nhau để khi người thân đã ra đi thì tiếc nuối cũng bằng không.
“Sao không nói khi em còn sống . . .” là những lời xây dựng vun đắp hạnh phúc cho nhau, mà lại nói những lời đắng lắng thô bỉ với nhau.
“Sao không nói khi em còn sống . . .” là những lời cảm thông, tha thứ cho nhau mà lại nói những lời chì chiết làm đau lòng nhau.
Cuộc sống chung quanh chúng ta vẫn là vậy. Tôi vẫn thấy những người con đùn đẩy cho nhau để chăm sóc cha mẹ, đôi khi còn chì chiết  làm đau lòng cha mẹ, thế nhưng khi cha mẹ qua đời mới thấy hối tiếc vì mình đã chẳng làm tròn bổn phận báo hiếu mẹ cha. Tôi vẫn thấy vợ chồng thường cơm chẳng lành canh chẳng ngọt vì vợ chồng khắc khẩu, thế nhưng, một khi người bạn không còn thì kẻ ở lại cũng cảm thấy chơi vơi, hối hận vì đã để những ngày tháng trôi qua quá buồn đau. Tôi vẫn thấy những người hàng xóm bên nhau vẫn nói những lời bóng gió làm đau lòng nhau, nhưng khi xa nhau mới thấy lòng xót xa.
Cuộc sống vẫn vô thường. Hôm nay đoàn tụ ngày mai chia ly. Cái chết lúc nào cũng rình mò, chực chờ bên ta và tất cả người thân yêu của ta. Hãy sống, hãy yêu thương, hãy nói những lời thật ngọt ngào xuất phát từ trái tim đối với những người thân yêu của mình, vì có thể bất cứ lúc nào, chúng ta cũng có thể mất nhau, dù ở bất cứ lứa tuổi nào, không phải theo quy ước cứ mãi đến già 70, 80 hay 100 tuổi mới mất.
Tháng 11 phải chăng cũng gợi nhớ cho chúng ta một niềm nuối tiếc nào đó về một người thân mà ta đã đối xử thiếu tình người mà nay họ không còn. Chúng ta tiếc nuối vì đã không nói những lời yêu thương dành cho họ. Chúng ta nuối tiếc về những lần chúng ta đối xử bất khoan dung với nhau. Chúng ta nuối tiếc vì nhiều cơ hội để phục vụ cho họ mà ta cố tình bỏ qua. Và bây giờ, khi xa cách, họ cũng đang nói với chúng ta: “Sao không nói khi em còn sống”.
Tháng 11 không dừng lại việc nhớ đến người quá cố mà là dịp để ta làm điều gì đó cho họ. Họ đang cần chúng ta yêu thương. Hãy yêu thương họ bằng việc cầu nguyện, làm việc lành phúc đức cho họ. Họ đã an nghỉ trong Chúa, thế nên, họ chẳng cần chúng ta nói gì với họ. Điều họ cần là hãy thay họ đền tội và lập công cho họ. Hãy tạo công nghiệp cho họ như là cách thể hiện lời nói yêu thương dành cho họ.
Cuộc sống con người luôn thiếu sót trong đức ái và đức mến. Những người đã chết cần chúng ta đền bù cho họ bằng chính đời sống bác ái yêu thương của chúng ta dành cho họ. Chúng ta hãy dành cho họ một kinh lạy cha, một kinh tin kính để xin ơn toàn xá cho họ nhân lễ các đẳng linh hồn. Chúng ta hãy dành cho họ những tràng chuỗi Mân Côi để xin ơn cứu độ cho họ. Chúng ta hãy làm một hy sinh hay một việc bác ái nào đó để đền bù cho thiếu sót trong cuộc đời bác ái của họ.
Đây là những cách mà chúng ta có thể đền bù với những người thân yêu của chúng ta. Những con người đáng lẽ ta phải yêu thương nhưng chúng ta đã phụ tình thương với họ. Hãy biết tận dụng tháng 11 như là tháng báo hiếu cho tổ tiên, tháng làm việc bác ái cho người đã khuất.
Ước gì tháng 11 là dịp để chúng ta bày tỏ lòng yêu mến với người đã khuất bằng những việc mang lại ơn ích thiêng liêng cho họ. Xin Chúa Giê-su đầy lòng thương xót đón nhận những tâm tình và việc làm của chúng ta để ban ơn cho các linh hồn là những người thân yêu của chúng ta. Amen
Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

ĐẠO HIẾU

17:06 |

Đạo hiếu

Tột cùng Thiện không gì bằng Có Hiếu, tột cùng Ác không gì bằng Bất Hiếu. Đó là đạo làm người. Dù là ai trong tôn giáo hay cuộc sống đời thường, từ kẻ cùng đinh trong xã hội tới người có quyền lực cao nhất, trước tiên người ta phải LÀM NGƯỜI, tức là có Đạo Làm Người. Không giữ Đạo Làm Người thì kẻ đó phải bị nguyền rủa.
Kinh thánh dạy: “Mỗi người phải kính sợ cha mẹ” (Lv 19:3), “Bất cứ người nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ, thì máu nó đổ xuống đầu nó” (Lv 20:9), và “Đáng nguyền rủa thay kẻ khinh dể cha mẹ!” (Đn 27:16). Với người Công giáo, nhà có người qua đời được gọi là “Nhà Hiếu”. Chắc hẳn không phải ngẫu nhiên mà tiền nhân đã dùng hai chữ đó! Và Hiếu cũng là một đạo: Đạo Hiếu. Đạo là đường ngay nẻo chính mà ai cũng phải bước theo suốt đời!
Trong một buổi phát sóng của chương trình “Bạn Hãy Nói Với Chúng Tôi” lúc 22 giờ 30 (hằng ngày phát trên kênh VOV, hệ 2) có một câu chuyện thật thương tâm về tình mẫu tử. Nghe xong chắc hẳn ai cũng phải “nóng máu” mà thương cho bà cụ và căm phẫn đứa con “xác người, dạ thú” kia!
Bà cụ năm nay đã 81 tuổi, ở Hà Nội (rất tiếc là nhà đài không cho biết tên tuổi và nơi ở cụ thể, vì lý do “tế nhị”). Chồng bà đã mất lâu. Bà một mình nuôi 3 đứa con: Đứa con trai lớn là con nuôi, 53 tuổi; đứa con thứ hai 45 tuổi; và đứa con gái thứ ba 42 tuổi. Các con bà đã có gia đình riêng. Cha mẹ luôn yêu thương con cái. Với người Bắc và người Trung, cha mẹ yêu con đến nỗi quên mình và không mong con các sẽ đền đáp (người Nam thì nuôi con và hy vọng chúng sẽ đền đáp). Với bà cụ đau khổ kia cũng coi con trai là “của để dành” – vì dân Việt thường ảnh hưởng sâu nặng quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (1 con trai coi là “có”, 10 con gái coi như “không”).
Đứa con nuôi và cô con gái út không có vấn đề gì. Đứa con trai 45 tuổi do bà rứt ruột đẻ ra lại có vấn đề nghiêm trọng. 19 năm anh ta lấy vợ thì bà ăn riêng 18 năm, dù ở chung nhà. Vì tuổi cao sức yếu, nay ốm mai đau, bà mới ăn chung và “lệ thuộc” vào vợ chồng anh ta khoảng 1 năm nay. Khi bà nằm bệnh viện, anh ta thường xuyên vào thăm và “rỉ tai” khiến bà ký giấy cho xong, vì bà quá mệt mỏi cả tinh thần lẫn thể lý. Thế là anh ta tráo trở, làm sổ đỏ và tách hộ khẩu, đất đai do anh ta đứng tên. Anh ta đã lừa chính mẹ ruột mình!
Chuyện không chỉ vậy. Hàng ngày, anh ta luôn “kiếm chuyện” la hét bà, mọi thứ đều đổ lỗi cho bà, thậm chí là đánh đập bà như cơm bữa mà không hề thương tiếc. Cô con dâu là giáo viên cấp I (sic!), đã không can ngăn chồng làm ác mà còn “đổ dầu vào lửa”. Cô ta cũng kiếm chuyện “đá thúng đụng nia, đá mèo khoèo rế”, vào hùa với chồng để hành hạ mẹ. Cứ đến bữa cơm thì cô ta lại la rầy đứa con: “Già rồi còn ngu”. Mới đây, không biết cô con dâu giáo viên “to nhỏ” với chồng thế nào mà anh ta tức tốc về nhà tát bà cụ mấy cái, rồi đuổi bà cụ ra khỏi nhà.
Cô con gái út nhiều lần khuyên can anh nhưng vô ích. Anh ta còn dõng dạc tuyên bố: “Quyền ở tay ông, lôi thôi ông đuổi khỏi nhà. Có tiền không chịu bỏ ra, chết ông bỏ thối”. Nghe những lời anh ta nói mà “nổi da gà” và “rởn tóc gáy”. Vì tham lam mà anh ta bất chấp đạo lý làm người, đạo là con với mẹ mình! Thật vậy, lòng tham không có đáy, “dù đá có biến thành vàng thì lòng người vẫn không thỏa mãn” (Ngạn ngữ Trung Hoa).
Balze nói: “Lòng Mẹ là vực sâu mà dưới đáy luôn có sự bao dung”. Nhưng bà cụ kia đã chịu đựng quá nhiều, bà đã kiệt sức, cuối đời mà bà không được thanh thản. Và nay bà làm đơn kiện đứa con “trời đánh” đó, nhưng lòng người mẹ còn băn khoăn không biết bà làm vậy có quá đáng không.
Ước mong sao những người con hãy tỉnh thức mà báo hiếu phần nào với song thân phụ mẫu – dù không bao giờ có thể đền ơn đáp nghĩa đủ, nếu không sẽ không còn cơ hội, vì Petit Sein đã xác định: “Cái chết của người mẹ là nỗi đau buồn thứ nhất khi người ta khóc mà không có mẹ bên cạnh dỗ dành”.
Người ta có thể chọn nhiều thứ nhưng không thể chọn cha mẹ, dù cha mẹ có thế nào thì vẫn là người sinh thành và dưỡng dục, dù con có lớn mấy (thành cha mẹ, thành ông bà) thì cũng vẫn là con của cha mẹ mình. Công lao sinh dưỡng lớn lao lắm:
Công cha nặng lắm, ai ơi!Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang
Người ta có thể tìm lại được nhiều thứ đã mất, nhưng không bao giờ tìm lại được cha mẹ đã mất. Khi các ngài qua đi, không còn trên cõi đời này, chúng ta sẽ cảm thấy hụt hẫng, trống vắng, để rồi…
Chiều chiều ngó ngược ngó xuôiNgó không thấy mẹ, bùi ngùi nhớ thương!
Chữ Hiếu lớn lao và quan trọng lắm. Chẳng ai trả công sinh dưỡng đúng mức cho cha mẹ, mà chính các ngài cũng chẳng mong con cái đáp đền, nhưng làm người phải biết đạo làm người, và làm con phải biết đạo làm con – dù người đó là ai:
Lo đêm rồi lại lo ngàyỞ sao hiếu thảo cho tày phận con
TRẦM THIÊN THU
Nguồn daminhtamhiep.net

KÝ ỨC VỀ TƯỢNG ĐÀI ĐỨC MẸ BÌNH GIÃ

06:03 |
KÝ ỨC VỀ TƯỢNG ĐÀI ĐỨC MẸ BÌNH GIÃ
Người Việt ở nước ngoài, bấm chuột vào website binhgia.net – Bình Giã Quê Hương Yêu Dấu để tìm đọc tin tức sinh hoạt xứ Bình trong tháng Mân Côi có gì đặc biệt?
Hình ảnh nổi bật đầu tiên là Thánh lễ khai mạc tháng Mân côi do Cha xứ Vinh Châu chủ sự dưới chân Tượng Đài Đức Mẹ ban ơn.
Lễ đài được trang hoàng hoa nến đẹp đẽ, ánh sáng lung linh muôn màu sắc. Hai bên lối vào Tượng đài là 36 kiệu hoa Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp do các tổ trong mỗi họ thực hiện và trang trí đẹp mắt làm cho buổi lễ thêm phần long trọng.
Trong khuôn viên rộng lớn trước Tượng đài, hàng ngàn giáo dân y phục đủ màu, nét mặt nghiêm trang, ngước mắt lên Tượng đài cầu nguyện. Một cảnh tượng ai thấy cũng phải xúc động, tăng thêm lòng mến yêu Đức Mẹ, trong đó có người viết bài này.
Có một điều là trong số giáo dân hiện diện nơi đây, kể cả những người vắng mặt trong cả 3 Giáo xứ Bình Giã, đa số là giới trẻ không hề biết rõ ràng biến cố trọng đại khi Đức Mẹ cầu xin Thiên Chúa cho giáo dân toàn trại tránh được máu đổ thịt rơi cách đây đã hơn 45 năm dài, và vì sao lại có Tượng Đài Đức Mẹ ban ơn liên quan đến biến cố ấy, sừng sững giữa trung tâm Bình Giã thân yêu chúng ta?
Rất tiếc sự kiện lịch sử thiêng liêng trọng đại này lại chưa hề được ghi vào Đặc san 50 năm Bình Giã Quê Hương Yêu Dấu. Có lẽ Ban biên tập là các bạn trẻ hoặc có vài vị lớn tuổi nhưng không có mặt trong thời gian xảy ra biến cố, do đó biến cố này không được đem vào Đặc san.
Nhân dịp này, người viết xin tường trình lại diễn tiến sự việc như là nhân chứng sống trong thời kỳ khó khăn ấy để bà con, nhất là giới trẻ tường tận, dĩ nhiên không tránh khỏi những thiếu xót, không ngoài mục đích bổ túc thêm vào phần lịch sử Bình Giã để lưu lại cho con cháu mai sau, biết trách nhiệm của mình với cha ông đã nằm xuống, mong muốn con cái, cháu chắt hãy luôn luôn nhớ ơn Mẹ Maria để tạ ơn và vinh danh Người.
Mong rằng Ban biên tập vì lòng mến Đức Mẹ, vì nguyện vọng giáo dân gốc Vinh Bình Giã có truyền thống sùng kính Đức Mẹ, bằng cách hiệu đính sự kiện lịch sử này vào cuốn Đặc san Bình Giã khi tái bản.
Sự kiện xảy ra như sau:
Khoảng thời gian từ năm 1965 – 1968, giáo dân Bình Giã sống trong cảnh chiến tranh tàn khốc, hàng chục thanh niên đã nằm xuống để lại vợ trẻ, con thơ, những vòng khăn tang mỗi ngày mỗi nhân lên. Trong số các trẻ em sớm mồ côi cha ngày ấy, hôm nay đã tuổi trung niên và chắc chắn nhiều người đã hiện diện trong buổi lễ nêu trên.
… Đêm mồng một, rạng sáng mồng hai tết Mậu Thân 1968, nhiều người đang trong giấc ngủ, bỗng dưng nghe tiếng pháo đạn rất gần, mọi người rên la, chạy xuống hầm cá nhân tránh đạn cho tới khi tiếng pháo im bặt, mọi người hoàn hồn và lên khỏi hầm. Sau vài phút, nhiều gia đình phát hiện những quả đạn súng cối chưa nổ xuyên qua tường nhà, nằm trước sân hay trong chuồng heo, gầm giường ... Hiện tượng hãi hùng này xảy ra ở Xứ Bình cụ thể như ở Họ Vĩnh Phước, La Nham, Nhân Hòa, Xuân Phong v.v.. và ngay tại miếng đất bây giờ là Tượng đài. Kế cận các nhà vòm tiền chế, lúc ấy có lớp học của người viết giảng dạy (trưởng lớp là trò Nguyễn Xuyên, Nghi Lộc hiện là Linh mục đang định cư và mục vụ ở Bỉ Quốc). Tại đây chình ình 7 quả đạn cối không nổ. Tổng  cộng cả Bình Giã là 51 quả nhưng không có quả nào nổ cả. Hú vía mọi người nhận biết sự kiện này là một phép lạ do Mẹ Maria cứu giúp. Liền sau đó, các Cha ở ba giáo xứ đã làm giờ kinh nguyện và dâng Thánh lễ tạ ơn Chúa và Mẹ Maria đã ra tay cứu thoát giáo dân.
Để tạc lòng ghi ơn Mẹ, ông Lê Ngọc Báu có trách nhiệm về an ninh Bình Giã cộng tác với ông Cao Hùng Sơn ở Xuân Phong là phụ tá, cùng với nhóm thiện nguyện đã đi quyên góp tiền các giáo dân để xây Tượng đài. Chẳng bao lâu số tiền ân nhân ủng hộ tương đối kha khá. Ông Báu tự mình vẽ kiểu, thuê thợ xây đa số đều ủng hộ, chỉ trong 09 tháng Tượng đài đã thành hình. Lễ khánh thành rất đơn giản do Cha xứ Vinh Châu lúc đó là Cha Antôn Đoàn Duy Đông làm phép. Từ đó trở về sau này, luôn luôn có người tới khấn nguyện với Đức Mẹ.
Lễ Noel đầu tiên được tổ chức tại tượng đài về đêm vì nơi đây rộng rãi để giáo dân cả 3 xứ đến tham dự, hơn nữa họ muốn đến để thưởng thức các tiếng hát của ca đoàn Vinh Châu có tiếng hát rất hay từ thưở ban đầu tới định cư. Cha xứ Vinh Trung thời chiến tranh khốc liệt ấy là Cha Đinh Quốc Thụy nhiều lần đã tấm tắc khen ngợi.
Trong cuộc Đức Mẹ Fatimathánh du đến Bình Giã, ngài là trưởng ban tổ chức đã mời ca đoàn Vinh Châu có truyền thống hát hay phụ trách ca hát trong các buổi chiều lễ. Ngài cũng là ân nhân đặc biệt vì đã tìm mọi cách để đồng bào Bình Giã được lên Bà Rịa mua mắm muối đem về phục vụ bà con trong mấy năm nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Riêng ông Lê Ngọc Báu  năm nay 80 tuổi, cùng tuổi với người viết, hiện ở gần Phước Lộc Thọ, California biết rõ ràng từng chi tiết, đã có dịp người viết đề cập với anh Nguyễn Duy An tại Virginiavà anh tỏ ra muốn gặp ông Báu để tìm biết rõ ràng hơn. Mong ước gặp mặt và đề nghị anh Đinh Văn An, phụ trách mục lịch sử Bình Giã trong cuốn Đặc san về đề nghị hiệu đính vào sách sau này khi tái bản.
Pet. Nguyễn Đức Hiến


Ban biên tập:  BBT đã có bài viết của ông Lê Ngọc Báu, người đã trực tiếp vẽ và chỉ huy công trình xây dựng Đài Đức Mẹ tại Giáo xứ Vinh Châu-Bình Giã, nhưng vì một vài lý do nên chưa thể đăng toàn bộ bài viết của ông được. BBT rất mong được liên lạc với ông Lê Ngọc Báu để điều chỉnh bài viết một chút, nếu được BBT sẽ đăng lên trong thời gian sớm nhất có thể. 
BBT rất cảm ơn ông  Lê Ngọc Báu và ông Pet. Nguyễn Đức Hiến đã viết những bài này cho con cháu sau này. 



Tháng 11 - Tháng Các Linh Hồn: Mùa Báo Hiếu - Mùa Tình Yêu Hiệp Thông

16:51 |

Tháng 11 - Tháng Các Linh Hồn: Mùa Báo Hiếu - Mùa Tình Yêu Hiệp Thông



          Tháng 11, nỗi bật lên tâm tình của toàn thể Giáo Hội nhớ đến bậc tổ tiên, những người đã khuất bóng trên cõi đời nầy, những vị đã về Nhà Cha...

          
 Ngày 01.11, Lễ trọng kính các Thánh Nam Nữ, các ngài đã được vinh hiển nhờ tình thương của Chúa nhân lành, các ngài được chia sẻ hạnh phúc sung mãn của Chúa. Giờ đây, trên trời, các ngài được chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa, đồng thời các ngài cũng đang cầu bầu và chờ đợi chúng ta. Các ngài là Giáo Hội khải hoàn, Giáo Hội vinh thắng sau cuộc chiến ở trần gian.

           
Ngày 02.11. Lễ cầu cho các linh hồn đang phải thanh luyện trong luyện hình, toàn thể Giáo Hôị dâng thánh lễ, cầu nguyện, hy sinh cho các linh hồn đã qua đời, đó là tổ tiên ông bà cha mẹ, mà hôm nay chúng ta thương nhớ tưởng niệm, hiệp thông để cầu nguyện trong lòng tin, thể hiện niềm thảo kính ấy, "vì tưởng nhớ, cầu nguyện cho những người đã an nghỉ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc đạo đức và thánh thiện" (2Mcb 12,53-45)

        Công đồng Vatican II trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, viết: " Chúa Kitô đã đem lại chiến thắng ấy khi Người sống lại, và nhờ cái chết của Người, Người đã giải phóng con người khỏi sự chết... đồng thời, còn cho con người có khả năng hiệp thông với những người anh chị em thân yêu đã chết trong Chúa Kitô và làm cho chúng ta hy vọng rằng những người ấy đã được sống thực trong Thiên Chúa." ( HC / GH số 18b).

        Về điều nầy thì chính Thánh Phaolô Tông đồ đã mang cho chúng ta sứ điệp của niềm hy vọng khi ngài viết cho tín hữu Thesalônica:"Vì nếu chúng ta tin rằng, Đức Kitô đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an nghĩ trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Kitô. Dựa vào lời Chúa, chúng tôi nói với anh chị em điều nầy là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước nhứng người đã an giấc ngàn thu đâu; vì khi lệnh ban ra, khi tiếng Tổng Lãnh Thiên Thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên, rồi đến chúng ta là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi." (1Thes. 4, 14-16).

Như thế, việc tưởng nhớ người thân yêu đã qua đời cũng chuẩn bị cho chúng ta nhớ đến quê trời và cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa: Đấng Hằng Sống và Đấng Ban Sự Sống cho chúng ta, dù chúng ta chết hay đang sống, vẫn luôn hiện diện trong Chúa và trước tôn nhan Người... Người là Chúa kẻ sống và cũng là Chúa của những người đã chết, nên chúng ta hãy sống xứng đáng với Người và sống tốt đẹp với nhau.

        Hôm nay, chúng ta đang đứng trước một huyền nhiệm rất sâu thẳm mà cũng rất hiện thực, sự sống và sự chết không có ranh giới. Cái chết là ngưỡng cửa mở ra cho chúng ta bước vào cuộc sống mới, sự sống chân thật, sự sống vĩnh cữu...

        Cầu nguyện cho những ngưòi đã khuất là chúng ta đang làm trọn Đạo Hiếu, Đạo Yêu Thương mà các ngài đang khát khao mong đợi... để ngày sau, trên quê hương Nước Trời, chúng ta sẽ sum họp cùng các Thánh, gia tộc thiêng liêng, những người thân yêu, mà ca tụng lòng từ bi lân tuất Chúa không hề ngơi...

        Sự sống mà sau khi chúng ta từ biệt ngôi nhà thân xác bụi đất nầy, thì chỉ có nơi Thiên Chúa, Thiên Chúa Hằng Sống, Thiên Chúa Tình Yêu. Tình yêu làm cho con người trở nên bất tử và vĩnh cữu cả đời nầy lẫn đời sau. Đời nầy, con người sống trong tình yêu: tha thứ, khoan dung, nhân hậu... thì đời sau, khi bước qua ngưỡng cửa sự chết, con người cũng sẽ ở trong tình yêu sung mãn, trong cung lòng của Đấng mệnh danh là Tình Yêu; nên cái chết cũng không phải làm cho con người quá sợ sệt, khiếp hãi, vì  trong tình yêu thì không có sự sợ hãi.  Con người đã sống trong tình yêu, tương quan mật thiết với chính Đấng Yêu Thương. Vì tình yêu, Thiên Chúa đã ban Con Một Người cho trần gian, Đức Giêsu xuống thế làm người, chết và sống lại, để cứu và đem con người vào vương quốc Tình yêu của Thiên Chúa; nên sứ điệp mà chúng ta phải lắng nghe, đón nhận, đó là sứ điệp Tình Yêu.

       
    Chúng ta đang sắp đi vào tuần cuối của năm Phụng vụ năm B, và cũng là Tháng Các Linh Hồn, chúng ta sẽ nghe lại đoạn Tin Mừng về điều răn trọng nhất, là Mến Chúa  Yêu người: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa...và yêu người thân cận như chính mình."(Mc 12, 28b-34). Thiên Chúa muốn chúng ta hiệp nhất với Ngài và với anh chị em trong cùng một tình yêu. Sứ điệp Tình Yêu là sợi giây xuyên suốt, hướng dẫn, đồng hành với chúng ta trên dương gian và theo ta về thế giới hằng sống.

     
      Vậy, để đáp lại ân sâu nghĩa nặng và lòng trân quý đối với bậc tiền bối, chúng ta hãy tham dự Thánh lễ, cầu nguyện, hy sinh, cũng như quyết tâm sống xứng đáng với những công đức và di sản các vị để lại, và hãy cùng nhau xây dựng đời sống thánh hảo, tài bồi sản nghiệp đức tin công giáo cho tình yêu gia tộc ngày thêm vững mạnh, thắm thiết, tình yêu tha nhân thêm mặn mà, để đem lại cho nhau niềm hy vọng tin yêu vào cuộc sống hơn. 
            Có như vậy, nén hương chúng ta thắp lên trong Mùa Báo Hiếu, Mùa Tình Yêu Hiệp Thông nầy sẽ có ý nghĩa hơn bởi lòng thành kính đối với những Người Đã Ra Đi... Các linh hồn được thanh luyện để về Quê hương Vĩnh Hằng trước... các vị cầu nguyện và chờ đợi chúng ta trong niềm Hiệp thông, gắn bó Yêu Thương, củng cố cho chúng ta là Giáo Hội lữ hành, được kiên vững trong đức tin mà nổ lực sống thánh thiện, để rồi mai ngày, chúng ta sẽ gặp các đấng mà ca tụng lòng từ bi lân tuất Chúa muôn đời.

           Lời kinh Hiệp Thông trọn vẹn được đọc trong phụng vụ thánh lễ, kinh nguyện Thánh Thể III: Hội Thánh giao chiến ở  trần gian cầu nguyện cho chính mình, cho thế giới và cầu nguyện cho Hội Thánh luyện hình, Nhờ - Với - Trong  Hy Tế của Đức Giêsu:

         " Nguyện xin của lễ hoà giải nầy đem lại bình an và cứu độ cho tất cả thế giới. Xin ban cho Hội Thánh Chúa trên đường lữ thứ trần gian được vững mạnh trong đức tin, đức mến, cùng với Đức Thánh Cha, các Đức Giám Mục chúng con và giáo sĩ khắp nơi và tất cả Dân riêng Chúa... Lạy Cha nhân từ, xin thương đoàn tụ mọi con cái Cha đang tản mác khắp nơi, xin thương cho ông bà, cha mẹ, anh chị em chúng con đã qua đời, và tất cả những ai đã ly trần trong ơn nghĩa Chúa, được vào Nước Chúa, nơi chúng con hy vọng sẽ tới, để cùng nhau tận hưởng vinh quang Chúa muôn đời..."

         Lời kinh đẹp như một tình yêu tròn đầy, huyền nhiệm. Lời Tình Yêu Hiệp thông trong Đại Gia Đình Hội Thánh. Một tình yêu gắn kết sắt son không thể chia lìa, vì trong tình yêu Hiệp Thông ấy, Hội Thánh Khải Hoàn trên trời vui mừng, Hội Thánh Lữ Hành trần gian tin tưởng, lớn lên, Hội Thánh Luyện Hình hy vọng chờ đợi, trong Tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh, Sống lại và Vinh Thắng. 

        Lạy Chúa, chúng con mong chờ Ngày Chúa trở lại! Amen - Allêluia.

Nữ tu Maria Nguyễn Thị Tuyệt


Ví dụ

16:39 |

Ví dụ


VRNs (29.10.2013) – Sài Gòn - Có nhiều cách ví dụ, nhưng người ta chỉ ví dụ điều tốt chứ chẳng ai ví dụ điều xui xẻo. Ví dụ cũng là dạng “nếu”, dạng “giả sử”, kiểu ước mơ, tất nhiên có thể hiện thực hoặc có thể không.
Nhưng có một ví dụ rất thực tế, và chắc chắn sẽ xảy ra bất cứ lúc nào: Chết. Chắc hẳn nhiều người cho là xui, vì ví dụ như vậy là dại dột và ngu hết sức. Nhưng thực ra không dại đâu, mà lại là khôn ngoan đấy! Không ai muốn nói đến sự chết, nhưng không ai thoát. Chắc chắn “chết” là điều thực tế. Chết là vấn đề rất thật, thật hơn cả sự thật. Dù đó là “chuyện xui xẻo” thì cũng cứ ví dụ xem sao: “Nếu chỉ còn một ngày để sống…”.
Lá xanh hay lá vàng có thể “rụng” bất kỳ lúc nào, dù gió to hay gió thoảng; trái xanh hay trái chín cũng có thể được (hay “bị”) người ta “hái” bất cứ lúc nào, dù sáng sớm, buổi trưa hoặc chiều tối, cũng có thể lúc đêm khuya.
Bạn sẽ phản ứng thế nào và sẽ làm gì? Bạn có bao giờ nghĩ như vậy? Chết lúc nào tốt, lúc nào xấu? Giờ nào thì chết “hên” và lúc nào thì chết “xui”? Ai có thể cưỡng lại Tử thần? Sao biết 9 giờ sáng là giờ hên mà không chết, lại chết vào 6 giờ tối? Sinh sản cũng vậy, biết thời điểm nào đó “hên” và thuận tiện mà sao không sinh lúc đó? Muốn có được không? Giờ nào tốt và giờ nào xấu? Ai biết chắc? Xui hay hên là do mình. Chẳng ai biết mình chết lúc nào và chết cách nào. Khi sắp chết mới biết mình… sắp chết. Cũng có thể lúc đó là muộn rồi!
Quả thật, “nếu chỉ còn một ngày để sống…” là một giả-thuyết-thực-tế, một cái “nếu” rất thật, thật đến nỗi điều đó có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, thậm chí là ngay bây giờ, dù bạn mới vài tuổi, ngoài đôi mươi, tứ tuần, trung niên, thất tuần, bát tuần, hoặc xấp xỉ… trăm tuổi!
Tình cờ nghe ca khúc “Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống” (*) của NS Hoài An (1929-2012), trong chương trình Paris By Night 95, tôi thực sự xúc cảm cái “đẹp” (đúng nghĩa ĐẸP) trong ca khúc đó về phương diện tích cực. Vâng, ca từ của ca khúc này đầy tính nhân bản, nguyên văn như sau:
Nếu chỉ còn một ngày để sống, người đưa tôi về đến quê nhà, để tôi thăm làng xưa nguồn cội, cho tôi mơ… mơ tiếng mẹ cha. Nếu chỉ còn một ngày để sống, người cho tôi một khúc kinh cầu, người tôi thương êm ấm môi cười, cho con tôi bước đời yên vui.
Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao ta trả ơn cuộc đời, làm sao ta đền đáp bao người, nâng ta lên qua bước đời chênh vênh? Nếu chỉ còn một ngày để sống, làm sao ta chuộc hết lỗi lầm, làm sao ta thanh thản tâm hồn, xuôi đôi tay đi giữa hừng đông?
Cho tôi như bóng mây, lang thang qua cõi này, cho tôi được ngắm sao trên trời giữa hương đồng cỏ nội. Cho tôi như khúc ca, bay đi xa rất xa, cho tôi được cám ơn cuộc đời, cám ơn mọi người. Cho tôi được sống trong tim người bằng những lời ca.
Nếu chỉ còn một ngày để sống, muộn màng không lời hối lỗi chân thành? Buồn vì ai, ta làm ai buồn, xin bao dung tha thứ vì nhau. Nếu chỉ còn một ngày để sống, chợt nhận ra cuộc đời quá đẹp, phải chăng ta có lúc vội vàng, nên ra đi chưa được bình an?
Với cảm nhận của riêng tôi, giai điệu đẹp và ca từ cũng đẹp. Có thể NS Hoài An viết theo cảm nhận đời thường, nhưng cái “nếu” của ông rất gần với Công giáo. Vâng, nếu chỉ còn một ngày để sống. Vậy thì sao?
Cách đặt vấn đề quá thực tế. Cái “nếu” này rất ý nghĩa và quan trọng biết bao – dù bạn là ai, ở bất kỳ cương vị nào, dù bạn có hay không có niềm tin tôn giáo! Tôi chợt nhớ tới thánh “nhí” Saviô. Một lần nọ, khi đang giờ chơi tại Khánh Lễ Viện của Thánh Lm Don Bosco, cậu Saviô được hỏi: “Nếu chỉ còn một giờ nữa con chết, con sẽ làm gì?”. Cậu bé Saviô đáp ngay: “Con vẫn tiếp tục chơi”.
Câu trả lời thật tuyệt vời, vì đó là thi hành Ý Chúa trong hiện tại. Giờ nào việc nấy. Dù là việc đọc sách thiêng liêng hay đọc kinh, cầu nguyện, làm từ thiện,… nếu không “đúng lúc” thì cũng vô nghĩa. Điều đó cho thấy “nhiệm vụ hiện tại” rất quan trọng qua cách thể hiện đức tin.
Vậy đó, con người quá yếu đuối, quá nhỏ bé, dù “có là gì” thì cũng chẳng là gì cả! Tôi chỉ nói ra cảm nhận riêng mà tôi khả dĩ chân nhận, tất nhiên không tránh khỏi tính chủ quan. Tôi biết tôi chỉ là con-số-không-to-lớn (a big zero), một “số không” lớn nhất trong những “số không” khác. Đó là một thực-tế-thật, dù rất có thể chính tôi cũng không muốn… chấp nhận!
Theo tôi, dù là ai thì trước tiên vẫn phải là con người, mà là con người thì không chỉ phải giữ luật sống của một con người bình thường mà còn phải “lưu ý” rằng cuối cùng mình cũng phải… chết, chẳng chóng thì chày, dù bệnh hay khỏe mạnh! Đó là một thực tế vừa minh nhiên vừa mặc nhiên. Có sợ chết tới mức nào thì cũng không ai thoát chết!
Người giàu sang, có danh vọng, có địa vị hoặc chức tước, người giàu hay nghèo, người lớn hay nhỏ, nam hay nữ, người giỏi hay dốt, người tài năng hay bình thường, người có niềm tin tôn giáo hay không có niềm tin tôn giáo, người xấu hay đẹp, người cao hay thấp,… cuối cùng rồi ai cũng hoàn toàn giống nhau: “Tay trắng vẫn hoàn trắng tay”. Nhắm mắt xuôi tay là… “chấm hết”. Vua Thánh Louis đã làm gương là “để hai tay ra ngoài chiếc quan tài” cho người ta thấy một thực-tế-thật. Nhưng có lẽ người ta chỉ nghe cho biết, đọc cho vui, thấy để mà… thấy. Thế thôi!
Ai cũng biết vậy, thế mà người ta vẫn cứ tranh giành nhau, chi li từng chút – cả vật chất lẫn tinh thần! Thua một chút là cảm thấy “khó chịu”. Mà thua một chút thì có sao? Hơn nhau một chút thì được lợi gì? Phải chăng đó chỉ là ảo tưởng? Quả thật, “cái Tôi” của chúng ta rất LỚN, do đó mà Pascal xác định: “Cái TÔI là đáng ghét”. Nhưng mấy ai dám ghét mình? Chúa Giêsu nói “từ bỏ mình” theo nghĩa đen chứ chẳng cần bóng gió chi cả (x. Mt 10:37-39; Lc 14:26-27). Khó lắm! Vì khó nên mới phải cố gắng và tập “chết” từng ngày…
Con người rất dễ ảo tưởng, càng “lớn” càng dễ ảo tưởng, càng dễ độc đoán, càng muốn “chứng tỏ mình”, càng dễ áp chế và bóc lột người khác. Nhưng người ta vẫn cho đó là áp dụng theo Luật Chúa, theo Phúc Âm, là làm nhiệm vụ, là sống khiêm nhường, chứ không ai muốn nhận mình là kiêu ngạo hoặc có “máu” Pharisêu!
Ai cũng một lần trút hơi thở cuối cùng, giã biệt trần gian để hóa thành cát bụi – rồi trở về với Chúa hưởng phúc trường sinh, hoặc làm tôi mọi cho Luxiphe đời đời kiếp kiếp. Cái chết giống nhau, nhưng hình thức có khác nhau theo “thói đời”.
Người giàu cũng chết, tiền của và vàng bạc không cứu nổi họ. Người giàu chết trên đống vàng, họ chết “sướng” chứ không chết “khổ” như người nghèo, quan tài là loại mắc tiền nhất, đám tang thật lớn, những vòng hoa tươi đủ sắc màu, không đủ chỗ đặt vòng hoa, cờ giăng rợp trời, cáo phó khắp nơi, người vào kẻ ra nườm nượp, khách toàn những “ông kia, bà nọ”, khói nghi ngút tỏa ra từ những nén nhang thơm loại mắc tiền, khoản phúng điếu tính hàng trăm triệu, kèn trống rộn ràng, thậm chí còn có cả chương trình ca múa nhạc cho thiên hạ thưởng thức; nếu người giàu là người có đạo thì gia đình tổ chức lễ đồng tế, tiệc tùng linh đình, không ai khóc, ai cũng hớn hở bắt tay nhau,… Người giàu vừa chết “sướng” vừa chết “công khai”.
Ngược lại, người nghèo chết âm thầm, chết trong đau khổ, chết vì không có tiền chạy chữa, chết hèn hạ, chết tủi nhục, chết đau đớn, chết thê thảm, chẳng ai thèm chú ý, không ai phúng điếu, vắng hơn Chùa Bà Đanh, bát nhang lạnh tanh, quan tài rẻ nhìn như chiếc thùng gỗ, đúng là… đám ma!
Người giàu được nhiều người tới phúng viếng, nghĩa là được nhiều người cầu nguyện cho, họ còn có nhiều tiền để xin lễ – tiền riêng và tiền phúng điếu. Còn người nghèo không ai phúng viếng thì có ai thương mà cầu nguyện? Lấy tiền đâu mà xin lễ?
Nếu xét theo “tầm nhìn” của phàm nhân, chắc chắn người giàu vào Thiên đàng mau hơn người nghèo. Thật hạnh phúc và an ủi thay là Thiên Chúa không xét theo kiểu của loài người, Ngài chỉ xét theo “công” và “tội”. Trong dụ ngôn “Người Giàu và Ladarô Nghèo Khổ” (Lc 16:19-31), Tổ phụ Ápraham đã nói rõ với người giàu: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16:25-26). Thiên Chúa là Đấng chí thánh, chí minh, chí công, chắc chắn Ngài sẽ đòi công lý cho người nghèo!
R.I.P. – Requiescat in Pace.
Lạy Chúa, vì Cuộc Khổ Nạn đau thương của Chúa Giêsu, vì Bửu Huyết Chúa Giêsu đã đổ ra, và vì Châu Lệ Đức Mẹ đã chảy ra, xin Chúa thương xót và tha thứ cho các linh hồn được an nghỉ ngàn thu trong tình thương vô biên và lòng thương xót hải hà của Chúa. Nguyện xin Chúa cũng tha thứ và cho chúng con chắc chắn sẽ được an nghỉ trong Chúa muôn đời. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Chuẩn bị Tháng Cầu Hồn – 2013
(*) Thưởng thức ca khúc này tại http://www.youtube.com/watch?v=b5YjDgNwib4
Được tạo bởi Blogger.